Nón làng Chuông và chuyện giữ “lửa nghề“

“Muốn ăn cơm trắng cá trê/Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông” là câu ca dao dân gian hay nhắc tới chiếc nón lá - vật che nắng, che mưa đã gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam dịu dàng. Nón làng Chuông (xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội) được biết đến như một thương hiệu nức tiếng ở Đồng bằng Bắc bộ. Cho đến nay, đây vẫn là làng nghề truyền thống thu hút nhiều lao động từ già tới trẻ tham gia, như cách người dân nơi đây giữ nhiệt huyết với nghề làm nón, như cách họ truyền lại tình yêu cho thế hệ sau để giữ “lửa nghề”.
 Bà Phạm Thị Lý (64 tuổi, Làng Chuông) cho hay từ khi sinh ra, lớn lên là đã theo ông bà, bố mẹ làm nón. Qua nhiều thế hệ nghề làm nón cứ thế được gìn giữ và lưu truyền, hơn nữa đây cũng là nghề mang lại nguồn thu nhập chính cho bà con trong làng.
 Để làm nón phải trải qua khá nhiều công đoạn. Những chiếc lá nón phải trải qua quá trình vò, cọ xát, phơi trắng, phun, là lá, lợp, đan nan…mới có thể làm nên chiếc nón lá đội che nắng, che mưa. 
 Những người làm nón thường phải rất tỉ mỉ, kỳ công trong từng công đoạn chiếc nón mới được bền, đẹp. 
Xã Phương Trung có 3.000 hộ (chiếm 95%) làm nón, mỗi ngày sản xuất trên 2.000 chiếc. Ở đây từ những đứa trẻ lên 10 tuổi tới các cụ 80 tuổi vẫn làm nón như thường. Những người làm nón thường là phụ nữ.  
 Mỗi chiếc nón làng Chuông đều đong đầy tình cảm, đam mê của nhiều thế hệ dày công giữ nghề. Ngày nay, càng tự hào hơn khi những chiếc nón đang vươn mình ra thế giới trở thành nét đẹp văn hóa của Làng Việt. 
 

Nghề nón mang lại thu nhập chính cho người dân trong vùng, đặc biệt người dân có thể tranh thủ sức lao động trong lúc nông nhàn. Mỗi chiếc nón bán ra có giá từ 60.000-100.000 đồng tùy từng loại. Chiếc nón che nắng, che mưa và che đi cả sự vất vả cho người lao động.

 

VƯƠNG TRẦN

tin đã đăng